Thứ Ba, 8 tháng 7, 2014

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014

Lịch sử Việt Nam



  

Lịch sử Việt Nam



                                                 




                                                      LỊCH SỬ VIỆT NAM 

                                                                      (Việt Sử Văn Vần, Lê Quý Long)  





 













        TỔ QUỐC VIỆT NAM

                  (Tặng người Việt trên khắp địa cầu)


                  Việt Nam, Tổ Quốc Việt Nam

Dựng hồn lịch sử mấy ngàn năm qua

      Máu xương tô thắm sơn hà

Kết đoàn tô thắm tình nhà, lòng dân.

      Cội nguồn từ Lạc Long Quân

Gian nan cùng với Âu Cơ lập dòng

      Sinh trăm trứng, nở trăm con

Chia nhau lập nghiệp, lòng son ngập ngừng

     “Năm mươi”(50) theo mẹ lên rừng

“Năm mươi”(50) xuống biển sống cùng với cha.

     Chung tay dựng nước non nhà

Văn Lang, quốc hiệu; vua đầu: Hùng Vương.

     Dân ta là giống Tiên Rồng

Nước ta lại có dạng rồng nguy nga:

     Chân trước là đảo Hoàng Sa

Chân sau là đảo Trường Sa (ngàn đời)

      Đuôi dài Phú Quốc vươn khơi

Mào dài kiêu hãnh Lai Châu xanh màu…

      Cớ sao cái lũ giặc Tàu

Bám theo cướp bóc đến nay không chừa?

      Xa xưa, cái thuở xa xưa

Triệu Đà xảo quyệt, đánh lừa Mỵ Châu

      Nỏ thần, chúng tráo, còn đâu…

Nước ta (Âu Lạc) vào tay Triệu Đà !

      Hán đùng đùng kéo quân qua

Đánh chiếm đất Triệu; đất ta, chia phần:

      Nhật Nam, Giao Chỉ, Cửu Chân

Chúng luôn áp bức, dân làm ngựa trâu…

      Năm “ba chín”(39), ngọn cờ đầu

Hai Bà Trưng đã đuổi Tàu tháo lui.

      Tàu lui rồi lại “chẳng lui”

Tính tham vơ vét…mà lui “sao đành”!

      “Hai bốn tám”(248), tiếp đấu tranh

Bà Triệu khởi đánh tan tành quân Ngô.

      Về sau, quân ít thế cô

Phải cam thất trận, dưới mồ còn căm!

      “Năm bốn bốn”(544), đánh ngoại xâm

Lý Bôn quyết đuổi giặc Lương khỏi bờ

      Chẳng may lâm bệnh bất ngờ

Giao Triệu Quang Phục cầm cờ khiển binh

      Lên ngôi lấy hiệu Việt Vương

Lui về Dạ Trạch, lợi đường đấu tranh.

      Về sau, cơ sự chẳng thành

Đến Mai Hắc Đế, rạng danh một thời:

      Quân Đường bị đánh tả tơi

Rồi sau…non nước cũng rơi tay Tàu!

      Nghìn nghìn cảnh khổ, đớn đau

Dân ta gánh chịu, nỗi này khó quên

      Mai Hắc Đế đã đứng lên

“Bảy hai hai”(722) ấy, làm nên sử vàng.

      Tàu thêm mười vạn binh sang

Phía ta sức yếu, khó tan giặc Đường.

      Ra tay, Bố Cái Đại Vương

Năm “bảy chín một”(791), một phương trời hồng

      Hai mươi năm, mãi tiến công

Đuổi được lũ giặc cuồng ngông chạy về.

      Rồi mây… lại phủ sơn khê

Bạo tàn Nam Hán trên quê hương mình !

      “Chín ba chín”(939), tướng Ngô Quyền

Đánh tan giặc Hán: xác, thuyền…đầy sông.

     Trận Bạch Đằng đã nằm lòng

Toàn dân nô nức tôn vua: Ngô Quyền.

     Dân yếu thì nước chẳng yên

Mỗi vùng, tự vệ; mỗi miền, tự xưng..!

      Nỗi lo “thập nhị sứ quân”

Nên Đinh Bộ Lĩnh cùng chung Lê Hoàn

      Thống nhất “nhị thập” vẻ vang

Lên ngôi “chín sáu tám”(968) Đinh Tiên Hoàng.

      Tình hình còn lắm ngổn ngang

Vua lại mất sớm, Lê Hoàn loay hoay…

      Thái hậu, ấu chúa bên tay

Giặc ngoài biên ải vây dày khắp nơi

      Âu đây cũng đã cơ trời

Triều đình,Thái hậu trao ngôi Lê Hoàn

      Một thân lèo lái giang san

Lên ngôi với hiệu là Lê Đại Hành

     “Chín tám không”(980), mốc rạng danh

Dân mình no ấm, an lành, yên vui.

      Nối ngôi, chỉ có hai người

Đến vua Long Đĩnh, kẻ cười, người khinh!

      Các quan văn võ triều đình

Tôn Lý Công Uẩn thăng vinh ngai vàng

      “Mười mười”(1010), Thái Tổ, chỉnh trang

Mọi việc triều chính đường hoàng hơn xưa.

      Nhà Lý với chín đời vua

Về sau, quyền bính vào tay nhà Trần.

      Trần Thủ Độ lắm oán, ân

Bày ra Trần Cảnh, vợ dâng ngai vàng.

      Chín đời Trần, cũng sang trang

Giặc Minh cướp phá, dân càng khổ đau

      Phất cờ, Lê Lợi đuổi Tàu

Lên ngôi Thái Tổ, rạng ngời non sông!

      Mười đời Lê tiếp nối ngôi

Phải thời loạn Mạc: vua, tôi…”ẩn mình”.

      Cũng nhanh, khôi phục triều đình

Tiếp thêm “mười sáu”(16) vua Lê trị vì.

      Nước nhà lại gặp lâm nguy

“Vua Lê, Chúa Trịnh” khiến suy yếu dần

      Nguyễn Huệ kêu gọi toàn dân

Đứng lên đánh đuổi Mãn Thanh về Tàu.

      Xua giặc, giải thoát dân ta

Lên ngôi hoàng đế hiệu là Quang Trung.

      Tiếc thay một đấng anh hùng

Số trời yểu mệnh, không cùng nước non!

      Đạo quân Nguyễn Ánh vẫn còn

Thừa cơ cướp lấy chính quyền, lên ngôi.

      Sau khi thống nhất nước rồi

Gia Long là hiệu của người ngôi cao.

      Nguyễn triều phải lắm lao đao

Giặc Tây cũng đã nhảy vào: xót xa !

               

                                  X

                                

                  Cuối cùng, ta giữ được ta

Giữ được dòng máu, nhà nhà an vui.

      Việt Nam, Tổ Quốc sáng tươi

Tình dân: bất khuất; tình người: bao la…

      Ai ơi ! giữ nước non nhà.



                            Lê Quý Long.